Nằm cách xa trung tâm phường Tuy Hòa 14km về phía Tây, đền thờ Lương Văn Chánh vẫn lưu giữ những dấu tích của một vùng đất với tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của người dân xứ Nẫu trong suốt gần 500 năm tồn tại.
Được xây dựng từ những năm 1630, đền thờ Lương Văn Chánh là nơi lưu giữ “giấy khai sinh” của vùng đất Phú Yên ngày trước. Nơi đây chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc Gia vào năm 1996. Từ năm 2008, tỉnh Phú Yên (trước sáp nhập) quyết định tổ chức lễ hội định kỳ tại đền vào mùng 6 tháng 2 âm lịch, trở thành dịp để người dân Xứ Nẫu tưởng nhớ vị Thành Hoàng đã có công khai mở vùng đất.
Dấu tích còn lại với thời gian
13 sắc phong và 1 sắc lệnh được cất trang nghiêm tại chánh điện của đền thờ. Sắc lệnh này gắn liền với khoảng thời gian ông Lương Văn Chánh khai khẩn vùng đất đèo Cù Mông, đèo Cả để khai sinh vùng đất Phú Yên ngày trước. Đó là những di vật thiêng liêng của vị Thành Hoàng: một vị tướng được giao khai phá vùng đất mới; một vị thần được cộng đồng phụng thờ và các triều đại nối tiếp nhau công nhận.

Trước đền là cổng tam quan, chia làm 3 lối vào, vẫn còn lưu nhiều vết đạn từ những năm chống Mỹ. Ông Lương Sơn Bá (52 tuổi), con cháu đời thứ 18 của ông Lương Văn Chánh, đồng thời là người hương khói và trông coi đền thờ, lý giải: “Đi vào phải đi bằng cửa bên phải, đi ra cũng phải đi cửa hướng tay phải. Cổng giữa chỉ dành cho các quan ngày xưa thôi”. Giải thích vì sao cổng tam quan thấp khiến người đi qua phải cúi đầu, ông chia sẻ: “Thấp là để khi đến hay ra khỏi đền phải cúi đầu chào gia chủ”.
18 đời truyền tay hương khói
Từ năm 17 tuổi, ông Lương Sơn Bá đã theo ông ngoại chăm lo hương khói, trông nom đền thờ. Công việc mỗi ngày không đếm xuể, tưới cây, quét dọn, cắt tỉa những cành cây cho khoảng sân được thoáng, mở cửa đón và tiếp khách. Đến ngày lễ, ông lại chuẩn bị nhang đèn, dâng hương, làm lễ. Những lúc rảnh rỗi, ông ra chăm sóc mấy sào ruộng để kiếm thêm thu nhập. “Đây là trách nhiệm của mình, cũng là lòng thành kính xin ông phù hộ cho gia đình, phù hộ cho con cháu họ Lương”, ông Bá tâm sự. Làm thuê, làm mướn, dành dụm được chút nào, ông chắt chiu mua nhang, mua dầu để lo việc hương khói. Ông Bá cho biết, dù hợp đồng mỗi tháng được 5 triệu cũng không đủ để chi trả cho các khoản chăm sóc đền thờ. “Cực lắm, đôi khi vợ tôi còn phải lên phụ, chia ra thì cũng đâu có bao nhiêu, 5 triệu mà tới 2 người làm”, ông trầm ngâm.
Cả cuộc đời ông dường như đã gắn bó với đền thờ. Gần 40 năm qua, ông luôn xem đây là trách nhiệm và nghĩa vụ mà con cháu họ Lương phải làm. Ông Bá cho biết, sau này con ông sẽ là “hậu duệ đời thứ 19”, thay ông chăm lo, hương khói cho đền thờ. Trả lời chúng tôi, ông dự định khi đến tuổi nghỉ hưu, ông cũng không rời nơi này, chỉ không làm những việc nặng nhưng vẫn sẽ chăm sóc đền thờ như trước.

Lễ hội thu hẹp, người đến thưa dần
Hàng năm, tại đây diễn ra hai lễ lớn vào mùng 6-2 và 19-9 âm lịch. Trong đó, 19-9 (âm lịch) là giỗ ông, còn lễ hội 6-2 (âm lịch) có quy mô lớn hơn, gắn với ngày ông Lương Văn Chánh nhận lệnh khai khẩn vùng đất Phú Yên. Được tổ chức vào mùa xuân, lễ hội thuận lợi cho các hoạt động hội như trò chơi dân gian, hát tuồng. Trước đây, lễ hội diễn ra từ 3 đến 5 ngày, con cháu họ Lương tề tựu, bà con và khách khứa về dự rất đông, dao động từ 5.000 đến 8.000 người.
Tuy nhiên, sau dịch COVID-19 và quá trình sáp nhập tỉnh, quy mô lễ hội dần bị thu hẹp, chỉ tổ chức trong 1 ngày, chủ yếu tập trung vào các nghi lễ chính. Số người tham dự giảm xuống còn chỉ khoảng 300 người. Ông Nguyễn Đình Diên (70 tuổi), là người dân ở gần đền cho biết: “Năm vừa rồi lễ hội cũng không còn được vui như trước nên cũng ít đi, chỉ đi một buổi lễ chính thôi”.
Các trò chơi dân gian và hoạt động văn hóa, nghệ thuật không còn được tổ chức khiến lượng thanh niên tham dự ngày càng ít. Ông Tô Điền Khuê, viên chức mảng văn hóa của xã Phú Hòa 2, từng công tác tại Ban quản lý di tích huyện Phú Hòa, cho rằng việc cắt giảm các hoạt động phần hội, vốn thu hút đông thanh niên, có thể khiến truyền thống lễ hội dần mai một. Theo ông, lễ hội được tổ chức đều đặn hằng năm sẽ tạo thành một phần ký ức và tâm thức cộng đồng. Nhưng nếu khoảng cách giữa các mùa hội ngày một xa, ký ức ấy cũng dần phai nhạt. “Sau một năm thì họ vẫn còn nhớ, sau năm năm họ sẽ không còn nhớ nữa”, ông nói.
Do đó, để những giá trị gần 5 thế kỷ không mai một, đền thờ Lương Văn Chánh cần được tiếp sức bằng những cách làm phù hợp với ngày nay. Ở góc nhìn của ông Điền Khuê, việc khôi phục phần hội để cộng đồng, đặc biệt người trẻ, có thêm cơ hội tham gia là điều cần thiết. Cùng với đó, một tuyến đường thuận tiện cho các loại phương tiện sẽ giúp di tích dễ tiếp cận hơn. Và, dẫu có phát triển thành điểm đến du lịch, nơi đây vẫn cần giữ bản sắc của một không gian tâm linh, nơi lưu giữ ký ức và lòng thành kính của người dân với vị Thành Hoàng khai mở vùng đất.


